Cái được xem xét ở đầu kia là một mô tả, nên phần không nói ra được sẽ rơi khỏi mọi phép công nhận — dù nó có thật và thường là phần quan trọng nhất.
Đây là hệ quả nặng nhất của việc công nhận làm việc trên mô tả chứ không trên bản thân sự vật.
Vì sao phần khó mô tả lại là phần quan trọng
Không phải ngẫu nhiên. Ba cơ chế đẩy phần quan trọng về phía khó mô tả:
- Cái dễ mô tả thì dễ có — nhiều người có nên nó thành mặt bằng chung, không còn phân biệt được ai với ai;
- Cái hình thành qua thời gian dài thường nằm trong nếp làm, mà nếp thì khó nói thành lời;
- Cái gắn với một hoàn cảnh cụ thể chỉ mô tả trọn được nếu kể cả hoàn cảnh, mà hoàn cảnh ấy không sang cùng.
Vậy nên chuỗi công nhận là một chuỗi lọc có hướng: nó giữ lại phần nói ra được và bỏ phần còn lại, lần nào cũng theo cùng một hướng.
Điều gì xảy ra với phần bị rơi
Nó không biến mất. Nó vẫn ở đó, vẫn có tác dụng, chỉ là không ai ở đầu kia biết nó tồn tại. Ba biểu hiện:
- Kết quả tốt hơn mức hồ sơ hứa hẹn — và điều đó chỉ lộ ra sau khi đã bắt đầu làm;
- Không đổi được thành điều kiện tốt hơn lúc đầu, vì lúc ấy chưa ai thấy;
- Phải chứng minh lại từ đầu ở mỗi quan hệ mới, vì nó không nằm trong bất kỳ giấy nào.
Biểu hiện thứ hai là chỗ tốn nhất: phần mạnh nhất lại là phần không được tính vào lúc thương lượng.
Ba cách xử lý phần bị rơi
- Viết nó ra — chuyển từ nếp thành lời; mất một phần trong quá trình, nhưng phần còn lại thì đi được;
- Tìm một dấu hiệu thay cho nó — một thứ mô tả được mà thường đi cùng nó, để bên kia có cái để nhìn;
- Tìm người làm chứng — chuyển từ mô tả sang lời của một bên mà đầu kia thừa nhận.
Cách thứ hai là cách rẻ nhất và cũng dễ hỏng nhất: dấu hiệu chỉ có giá trị khi nó thật sự đi cùng thứ được thay, và khi mọi người bắt đầu tìm dấu hiệu thay vì thứ thật thì liên hệ ấy đứt.
Vì sao viết ra vẫn đáng dù mất một phần
Ba lý do, và cả ba đều đúng ngay cả khi không sang đầu nào:
- Thứ viết ra thì dạy lại được, nên nó không mất khi người giữ nó vắng mặt;
- Thứ viết ra thì kiểm được, nên sai sót lộ ra sớm thay vì lộ ra lúc đã muộn;
- Thứ viết ra chuyển từ loại phải chứng minh lại mỗi lần sang loại chứng minh một lần.
Phần mất trong quá trình viết là có thật và không nên giả vờ là không. Nhưng nó là phần mất một lần, đổi lấy một thứ dùng được nhiều lần.
Đọc một hồ sơ bằng phần nó không nói
Khi nhìn mô tả về một thứ ở đầu kia, câu hỏi có ích không phải nó nói gì mà là nó đang im lặng về cái gì:
- Phần nào của thứ này vốn không mô tả được, nên chắc chắn không có trong đó;
- Có dấu hiệu nào đang được dùng thay cho một thứ khác không, và liên hệ giữa chúng còn đúng không;
- Nếu chỉ có mô tả này thì bên kia sẽ hình dung thiếu chỗ nào, và chỗ ấy có quan trọng không.
Ba câu hỏi ấy cũng dùng được theo chiều ngược, khi chính mình là bên đọc mô tả về một thứ ở đầu kia. Lúc ấy chúng nhắc rằng cái mình đang nhìn không phải thứ thật mà là phần của nó lọt qua được một chuỗi lọc — và chuỗi lọc ấy có hướng cố định, luôn giữ phần dễ nói và bỏ phần khó nói. Đọc mô tả như thể nó đầy đủ là cách hiểu sai một cách có hệ thống, không phải ngẫu nhiên.
Với mọi việc thật — giấy tờ, công nhận văn bằng, cư trú, hải quan, hợp đồng — phần trên chỉ là cơ chế. Việc thật phải hỏi cơ quan có thẩm quyền sở tại, cơ quan đại diện Việt Nam hoặc luật sư.
Vì sao phần quan trọng lại hay khó mô tả?
Vì cái dễ mô tả thì nhiều người có nên thành mặt bằng chung, còn cái hình thành qua thời gian dài thường nằm trong nếp làm và nếp thì khó nói thành lời.
Phần bị rơi có mất hẳn không?
Không, nó vẫn có tác dụng nhưng không ai ở đầu kia biết nó tồn tại. Hệ quả tốn nhất là nó không đổi được thành điều kiện tốt hơn lúc thương lượng.
Dùng một dấu hiệu thay thế có an toàn không?
Rẻ nhưng dễ hỏng. Dấu hiệu chỉ có giá trị khi nó thật sự đi cùng thứ được thay, và khi người ta bắt đầu tìm dấu hiệu thay vì thứ thật thì liên hệ ấy đứt.
Viết ra mà mất một phần thì có nên viết không?
Nên, vì đó là phần mất một lần đổi lấy thứ dùng được nhiều lần. Ngoài ra thứ viết ra còn dạy lại được và kiểm được, hai điều có giá trị ngay cả khi không sang đâu.